Tại sao Nhật Bản tụt hậu trong ngành sản xuất các bộ phận và linh kiện điện tử

Eiindustrial We
Tại sao Nhật Bản tụt hậu trong ngành sản xuất các bộ phận và linh kiện điện tử

Tại sao Nhật Bản tụt hậu trong ngành sản xuất các bộ phận và linh kiện điện tử

Giá trị xuất khẩu các bộ phận và linh kiện điện tử của Nhật Bản đã sụt giảm đáng kể sau cuộc Khủng hoảng Toàn cầu 2008 và đến nay vẫn chưa phục hồi. Có nhiều lý do để giải thích vấn đề này, nhưng các chuyên gia cho biết nguyên nhân chính là do đồng Yên tăng giá và chiến lược đối phó với khủng hoảng của các công ty sản xuất linh kiện điện tử Nhật Bản.

Nhật Bản tiên phong nghiên cứu và sử dụng bóng bán dẫn

Bóng bán dẫn là thành phần quan trọng trong các thiết bị điện tử, công nghệ, ô tô… Mười công ty sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới năm 2021 gồm 7 công ty của Mỹ (Intel, Broadcom, Micron Technology, Qualcomm, Applied Materials, Nvidia, Texas Instruments), 2 của Hàn Quốc (Samsung Electronic, SK Hynix) và 1 của Đài Loan (TSMC). Nhưng chính Nhật Bản mới là quốc gia đầu tiên nghiên cứu và phát triển bóng bán dẫn - chỉ 3 tháng ngay khi bóng bán dẫn được phát minh tại Phòng thí nghiệm Bell của Mỹ vào năm 1947. Các công ty Nhật Bản tiên phong sử dụng bóng bán dẫn, các bộ phận và linh kiện điện tử khác để sản xuất radio, máy thu hình, Sony Walkman, máy ghi băng video và máy tính… Khi đồng yên tăng giá 60% sau Hiệp định Plaza 1985, họ đánh mất khả năng cạnh tranh trong ngành này. Cuối cùng,thị trường được trao lại cho các nhà sản xuất hàng điện tử và linh kiện nước ngoài.  Kể từ năm 1994, các bộ phận và linh kiện điện tử đã trở thành danh mục xuất khẩu hàng đầu thứ hai của Nhật Bản. Tuy nhiên, khi khủng hoảng kinh tế 2008 xảy ra, lợi thế đã nghiên về hai quốc gia Đông Á khác Hàn Quốc và Đài Loan tăng vọt. Nhật Bản là nước xuất khẩu linh kiện và phụ tùng điện tử lớn nhất thế giới trước cuộc khủng hoảng, nhưng đến nay, Đài Loan và Hàn Quốc đều xuất khẩu nhiều hơn gấp đôi giá trị mà Nhật Bản đã có.

Đồng Yên tăng giá, biên lợi nhuận của các công ty bóng bán dẫn Nhật Bản giảm sút

Các công ty Nhật Bản phải đối mặt với một cú sốc tiêu cực khi đồng yên tăng giá bắt đầu từ tháng 6   năm 2007. Sau cuộc khủng hoảng, đồng Yên tăng giá 45% so với đô la Mỹ, kéo dài đến tháng 9 năm 2012. Đồng thời, đồng won Hàn Quốc và đồng đô la Đài Loan mất giá, dẫn đến giá linh kiện sản xuất tại Nhật Bản tăng 35% so với các nhà xuất khẩu thuộc quốc gia khác.  Sau năm 2012, đồng Yên dần mất giá nhưng các công ty Nhật Bản vẫn không thể phục hồi như trước đó. Vì duy trì khả năng cạnh tranh trong ngành này đòi hỏi đầu tư lớn vào vốn vật chất và nghiên cứu và phát triển. Sau cú sốc lợi nhuận, các công ty Nhật Bản không thể duy trì đầu tư ở mức trước khủng hoảng. Khoản đầu tư vào tài sản cố định hữu hình của các công ty linh kiện và phụ tùng điện tử của Nhật Bản đã sụt giảm và không bao giờ có thể quay lại mức cao như trước. Cú sốc đồng yên tăng giá này đã gây ra hiệu ứng trễ, góp phần dẫn đến sự suy giảm trong dài hạn của ngành. Ngược lại, lợi nhuận của các công ty linh kiện và linh kiện điện tử của Đài Loan và Hàn Quốc không ngừng tăng lên. Hình bên dưới cho thấy giá trị xuất khẩu linh kiện điện tử Đài Loan và Hàn Quốc đã tăng vọt, trong khi các nhà sản xuất Nhật Bản sụt giảm. Lợi nhuận tăng tại các công ty ở Đài Loan và Hàn Quốc đã cho phép họ đầu tư mạnh và duy trì lợi thế so sánh trong sản xuất bộ phận và linh kiện điện tử.
Gía trị xuất khẩu linh kiện điện tử của các nước

Các nhà sản xuất linh kiện điện tử cao cấp của Nhật Bản vẫn tồn tại trong khủng hoảng

Các công ty linh kiện và phụ tùng điện tử của Nhật Bản không sản xuất các sản phẩm hàng hóa cạnh tranh nhiều, chẳng hạn như chất bán dẫn, vẫn hoạt động hiệu quả. Murata Manufacturing là một ví dụ, công ty này sản xuất các linh kiện từ gốm, họ để lại thị trường cấp thấp cho các công ty Đài Loan để tập trung vào các tụ điện gốm nhiều lớp cao cấp hơn.  Murata Manufacturing cũng thống trị thị trường trong một số loại linh kiện và cảm biến nhất định. Giá trị của đồng yên không ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Murata. Vì Murata sản xuất các sản phẩm cao cấp và chiếm lĩnh thị phần ở một số chủng loại sản phẩm, nên công ty này ít phải đối mặt với áp lực giảm giá đồng yên. Do đó, đồng yên biến động ít làm tổn hại đến lợi nhuận của họ. Đồng đô la Đài Loan giảm giá cũng không ảnh hưởng gì đến cổ phiếu của Murata. Đối với các sản phẩm như tụ gốm nhiều lớp, Murata sản xuất các mặt hàng cao cấp hơn và các công ty Đài Loan sản xuất các mặt hàng cấp thấp hơn. Do đó, ít có sự cạnh tranh về giá giữa họ.  Điều thú vị là đồng won Hàn Quốc giảm giá lại làm tăng lợi nhuận từ cổ phiếu của Murata. Đồng won giảm giá làm tăng nhu cầu xuất khẩu hàng hóa của Hàn Quốc, từ đó có thể làm tăng nhu cầu đối với các bộ phận và linh kiện của Nhật Bản.

Bài học từ các doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản

Kinh nghiệm của Nhật Bản với các bộ phận và linh kiện điện tử cung cấp cho các công ty trong ngành sản xuất một số bài học. Đầu tiên, những cú sốc bất ngờ có thể khiến triển vọng của ngành trở nên khó khăn. Các công ty nên tiết kiệm trong thời gian thuận lợi để chuẩn bị cho suy thoái. Trong thời gian tồi tệ, họ nên tập trung vào việc duy trì khả năng tồn tại lâu dài và chống lại hiệu ứng trễ. Thứ hai, cạnh tranh dựa trên giá cả trong các ngành công nghiệp hàng hóa là một điều khó khăn. Các công ty Nhật Bản nên chuyên môn hóa các sản phẩm mà tay nghề thủ công được đánh giá cao và tỷ suất lợi nhuận lớn. Ví dụ về điều này là bộ lọc gốm mà Murata sản xuất hoặc cảm biến hình ảnh mà Sony sản xuất. Bằng cách tìm ra những thị trường ngách mà họ có lợi thế, các công ty có thể giảm tiếp xúc với dòng vốn trú ẩn an toàn và tỷ giá hối đoái biến động. 

 Nguồn Voxeu

Nội dung khác

Sản phẩm công nghiệp là gì và được phân loại như thế nào?

“Công nghiệp” được định nghĩa như sau theo Wikipedia: “ Công nghiệp , là một bộ phận của nền kinh...

TÌM HIỂU VỀ CẦN CẨU VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NÓ

cần cẩu (cần trục), lịch sử phát triển của cần cẩu