Mức độ tự động hoá Sản xuất công nghiệp ở Việt Nam chỉ mới khởi chớm, Doanh nghiệp cần chuyển đổi để đón đầu cơ hội

Eiindustrial We
Mức độ tự động hoá Sản xuất công nghiệp ở Việt Nam chỉ mới khởi chớm, Doanh nghiệp cần chuyển đổi để đón đầu cơ hộiMức độ tự động hoá Sản xuất công nghiệp ở Việt Nam chỉ mới khởi chớm, Doanh nghiệp cần chuyển đổi để đón đầu cơ hội Tự động hoá (TĐH) là một cụm từ không còn xa lạ với các Doanh nghiệp, đặc biệt là Doanh nghiệp sản xuất Công nghiệp tại Việt Nam. Cùng WE theo dõi bài chia sẻ của ông Bùi Văn Chí – Giám đốc Công ty Cổ phần Kỹ thuật Temas về triển vọng TĐH tại Việt Nam. Hơn 10 năm chinh chiến trong ngành Công nghiệp phụ trợ, ông đánh giá như thế nào về mức độ TĐH của Việt Nam so với Thế giới? TĐH Công nghiệp bao gồm nhiều lĩnh vực với mức độ tự động hóa khác nhau. Ở Việt Nam, có các lĩnh vực có mức độ tự động hóa cao như hóa chất, năng lượng, F&B,… Các lĩnh vực có mức độ tự động hóa trung bình và thấp như ô tô – xe máy, điện - điện tử, may mặc, giày da,… lại là khu vực phổ biến, thu hút phần lớn vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam, hoạt động nhộn nhịp trong khoảng 20 năm nay. Tham chiếu theo mô hình tiêu chuẩn ISA-95 về các mức độ tự động hóa trong nhà máy sản xuất. Các nước ở khu vực phát triển như Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, … đang phát triển ở cấp độ cao và rất cao. Thực tế, mặt bằng chung các nhà máy ở Việt Nam chỉ mới dừng lại ở các cấp độ rất thấp (chủ yếu level 0 hoặc level 1), sử dụng máy móc cho các công đoạn chính còn lại tận dụng tối đa nhân công ở các công đoạn còn lại. Điều đó không chỉ diễn ra ở các nhà máy sản xuất công nghiệp nội địa mà chính cả trong các nhà máy do nước ngoài đầu tư tại Việt Nam, với mong muốn tận dụng tối đa nguồn nhân công giá rẻ dồi dào.  Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, sự bùng nổ từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu ngày càng khắt khe đối với các sản phẩm tiêu dùng về chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc, quản trị từ xa, tối ưu chi phí,…yêu cầu các nhà máy sản xuất phải đầu tư nhiều hơn cho TĐH. Việt Nam chúng ta không nằm ngoài xu thế đó, và không thể chỉ mong chờ vào mỗi yếu tố về cạnh tranh chính sách hay nhân công giá rẻ mà phải hiện đại hóa một cách đồng bộ từ con người đến công nghệ để đáp ứng được nhu cầu phát triển chung. Vậy TĐH là một phần tất yếu, nhưng tại sao TĐH ở Việt Nam vẫn còn đang rất chậm, thưa ông? Có nhiều lý do: 
  • Thứ nhất là Bối cảnh: Trước khi làn sóng FDI ồ ạt đầu tư vào Việt Nam, ngành công nghiệp chế biến chế tạo của chúng ta gần như là con số 0 tròn trĩnh, công nghiệp sản xuất trong nước ở trình độ thấp. Trong khi doanh nghiệp các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận chúng ta đều nhìn vào ưu thế lớn về các ưu đãi cũng như lực lượng nhân công trẻ và rẻ. Nên nhu cầu cho tự động hóa không được ưu tiên. 
  • Thứ hai là Công nghệ: Muốn thực hiện tự động hóa ở trình độ cao, chúng ta phải có nền tảng công nghệ, vật liệu, máy móc, linh kiện, đội ngũ Chuyên gia. Việc tự chủ của chúng ta về vấn đề Công nghệ trong thời gian vừa qua và trong tương lai gần cũng đang rất hạn chế. Nhật Bản đã nghiên cứu chế tạo và đưa robot tham gia vào hoạt động sản xuất từ những năm 70 của thế kỷ trước với sự tự chủ hoàn toàn về công nghệ và không ngừng phát triển cho đến ngày nay. Việt Nam hiện tại mới bắt đầu bắt tay vào nghiên cứu và sản xuất robot công nghiệp với một số thương hiệu như: T-ROBO với dòng Robot đơn trục hoặc kết hợp XYZ, hay Robot 3T với các loại cánh tay robot từ 4 đến 6 trục và các nhà sản xuất xe, robot tự hành. Điều đáng nói là chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu các linh kiện quan trọng và chưa thể tự chủ hoàn toàn. Hạn chế về việc làm chủ công nghệ, nên mặc dù một số nhà máy được đầu tư hiện đại nhưng cơ hội để nhận được các hợp đồng đó thường dành cho các nhà thầu nước ngoài.
  • Thứ ba là Chi phí : Về phía Nhà đầu tư, với việc tận dụng tối đa các điều kiện về nhân công và các chính sách ưu đãi, các nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện dự án tại Việt Nam thường chuyển các công nghệ và dây chuyền công đoạn đơn giản, giá trị sản phẩm không cao, trong khi nền công nghiệp sản xuất của Việt Nam còn non trẻ nên chi phí dành cho tự động hóa là rất hạn chế. Về phía các Nhà sản xuất, chế tạo, hầu hết chúng ta phải nhập khẩu vật liệu, công nghệ, linh kiện và thiết bị từ nước ngoài về để tích hợp nhưng nhu cầu và sản lượng thấp, đẩy giá thành sản xuất tăng cao, gây trở ngại cho bài toán hiệu quả đầu tư.
  • Thứ tư là Nhân sự: việc áp dụng TĐH buộc Doanh nghiệp phải giải thêm bài toán về nhân công trình độ cao, hoặc đào tạo nhân sự để có thể thiết lập và vận hành hệ thống. Việc này đòi hỏi nhiều nỗ lực trong khi có nhiều vấn đề khác mà Doanh nghiệp phải ưu tiên hơn.
Tự động hoá trong Nhà máy thông minh
Khó khăn thường đi với cơ hội, vậy cơ hội nào cho việc TĐH tại Việt Nam, đặc biệt là đối với các nhà sản xuất Công nghiệp phụ trợ, thưa ông? Có thể nói rằng sự đầu tư ồ ạt của dòng vốn FDI đã mang lại cơ hội lớn cho chúng ta đi kèm là việc chuyển giao công nghệ. Công nghệ phát triển nhanh và mạnh mẽ, kéo theo rất nhiều nhà cung cấp phát triển và chi phí sử dụng ngày càng giảm. Việt Nam hiện tại có khoảng trên dưới 200 đơn vị lớn nhỏ có thể tự chủ thiết kế, chế tạo và tích hợp tự động hóa cho mọi lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Thậm chí Việt Nam cũng đã tự sản xuất được những thiết bị công nghệ cao như cánh tay robot, robot XYZ, robot tự hành AGV... đội ngũ kỹ sư, người lao động được tích lũy kinh nghiệm, tạo điều kiện cho TĐH dễ dàng phát triển hơn. Hơn nữa, Việt Nam mặc dù đi sau nhưng là điểm đến tiềm năng của các hãng Công nghệ, họ sẵn sàng chuyển giao để cùng thúc đẩy quá trình TĐH đi lên theo nhu cầu tại chỗ của khách hàng. Dần dần giúp chúng ta tích lũy, có thể chủ động công nghệ mới và tối ưu để phù hợp với hiện trạng của Doanh nghiệp.
Một nhà máy thông minh của Nhật Bản đặt tại Việt Nam
Hiện tại dịch Covid đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến sản xuất công nghiệp, ngành TĐH ở Việt Nam sẽ chuyển biến như thế nào sau dịch, theo Ông? Trong 4-5 năm trở lại đây, trước khi bùng phát dịch Covid, đã có rất nhiều Doanh nghiệp tìm đến Temas để nghiên cứu và cung cấp giải pháp TĐH phù hợp cho họ. Khi bùng phát dịch Covid, những khó khăn tiếp nối khiến mọi thứ chững lại, với tâm lý đợi dịch đi qua. Nhưng điều bất ngờ là đơn hàng trong nửa đầu của năm 2021 lại tăng 50% so với thời kỳ trước dịch bùng phát, đặc biệt là các ứng dụng liên quan tới robot. Điều đó chứng minh rằng TĐH đã và sẽ là phương án lựa chọn của các Doanh nghiệp để đảm bảo chuỗi cung ứng không bị đứt gãy do biến động nhân sự, TĐH là phương án giúp Doanh nghiệp tránh sự phụ thuộc quá lớn vào nhân công và đảm bảo chất lượng ổn định, khi đơn hàng chảy từ nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc về Việt Nam rất lớn. Dù ảnh hưởng của dịch Covid-19 thường trực, các Doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo vận hành để cung cấp đơn hàng đúng hẹn. Điều quan trọng hơn, để CNPT Việt Nam tiến lên một nấc thang mới, đón đầu cơ hội đầu tư, các Doanh nghiệp Việt Nam cần TĐH để tạo nền tảng cạnh tranh cả về chất lượng và hiệu suất. Nếu CNPT Việt Nam đáp ứng được, chắc chắn CNPT sẽ cạnh tranh sòng phẳng với các nước và phát triển một cách bền vững.  Xin cám ơn Ông đã dành thời gian quý báu cho buổi chia sẻ với độc giả Cộng đồng công nghiệp WE. Kính chúc Ông sức khoẻ và Quý công ty Temas sẽ ngày càng phát triển bền vững trong tương lai.

Vy Nguyễn

Nội dung khác

Sản phẩm công nghiệp là gì và được phân loại như thế nào?

“Công nghiệp” được định nghĩa như sau theo Wikipedia: “ Công nghiệp , là một bộ phận của nền kinh...

Khu công nghiệp “xanh” Nam Cầu Kiền - Điểm sáng trên bản đồ KCN Hải Phòng

Theo dự thảo Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất Quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, dự kiến đến năm 2030, số...