English version here

Mô hình này do các chuyên gia tại Acatech và nhóm nhà khoa học Đức đề xuất, nhằm giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, xác định được mình đang ở giai đoạn nào trong sáu giai đoạn chuyển đổi số hướng tới công nghiệp 4.0.

Chuyển đổi số trong sản xuất, hay còn gọi là công nghiệp 4.0, không diễn ra ngay lập tức mà trải qua một lộ trình gồm sáu giai đoạn. Mỗi giai đoạn lại đòi hỏi tổ chức phải chuẩn bị một nền tảng, tư duy quản trị phù hợp. Dữ liệu có mặt trong toàn bộ lộ trình, nhưng đặc điểm của nó, cách thức thu thập, vai trò đối với các phương thức vận hành, quy trình ra quyết định và giá trị mà nó tạo ra cho doanh nghiệp là khác nhau.

Mặc dù bộ chỉ số trưởng thành số của Acatech dành cho các doanh nghiệp sản xuất, nhưng nó hoàn toàn có thể được điều chỉnh để áp dụng trong các ngành khác như dịch vụ, hậu cần, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, năng lượng…

Giai đoạn 1 và 2

Giai đoạn 1 (vi tính hóa) và giai đoạn 2 (kết nối) được xem như pha đầu tiên trong hành trình chuyển đổi số trong sản xuất hướng tới công nghiệp 4.0. Nếu ở giai đoạn 1, các doanh nghiệp bắt đầu thực hiện tin học hóa từng phần hoặc toàn phần trong các khâu sản xuất và các ứng dụng vẫn hoạt động một cách biệt lập thì ở giai đoạn 2, việc triển khai công nghệ thông tin (CNTT) biệt lập sẽ được thay thế bởi các cấu phần kết nối.

Các ứng dụng kinh doanh sử dụng rộng rãi được kết nối với nhau và phản chiếu quá trình kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp. Từng phần của hệ thống vận hành cung cấp kết nối và tương hợp với nhau, tuy nhiên sự liên thông hoàn toàn của lớp CNTT (IT) và công nghệ vận hành (OT) vẫn chưa diễn ra.

Giai đoạn 3

Ở giai đoạn 3 (hiển thị), nhờ vào các cảm biến gắn trong máy móc của dây chuyền sản xuất, doanh nghiệp bắt đầu thu được cái gọi là hình bóng số, giúp chỉ ra điều gì đang diễn ra trong doanh nghiệp vào bất cứ thời điểm nào. Nhờ đó, quyết định quản trị có thể dựa vào dữ liệu. Và nó là khối kết cấu lõi cho các giai đoạn tiếp theo trong lộ trình chuyển đổi số.

Giai đoạn 4

Ở giai đoạn 4 (tạo tính minh bạch), các ứng dụng dữ liệu lớn sẽ được triển khai song song với hệ thống ứng dụng kinh doanh như ERP và MES. Ứng dụng dữ liệu lớn cung cấp một nền tảng chung hữu ích, chẳng hạn dùng để phân tích dữ liệu dự báo mở rộng, nhằm tiết lộ những tương tác trong hình bóng số của doanh nghiệp.

Giai đoạn 5

Giai đoạn 5 (khả năng dự báo) dựa trên việc hoàn thành giai đoạn minh bạch hóa. Lúc này, doanh nghiệp có thể mô phỏng các kịch bản khác nhau trong tương lai và xác định kịch bản nào dễ xảy ra nhất. Điều này liên quan đến việc dựng ra hình bóng số của công ty trong tương lai, nhằm dự báo các kịch bản khác nhau và xếp thứ tự chúng theo khả năng xảy ra.

Giai đoạn 6

Cuối cùng, sau khi đã trải qua 5 giai đoạn nói trên, doanh nghiệp sẽ đạt cấp độ cao nhất trong chuyển đổi số sản xuất hay giai đoạn 6 (dự báo). Xây dựng khả năng dự báo cho phép doanh nghiệp ủy thác việc ra một số quyết định cho hệ thống CNTT, để thích nghi với môi trường kinh doanh đang thay đổi theo cách nhanh nhất có thể.

Ví dụ: doanh nghiệp sẽ thay đổi trình tự các đơn hàng đã dự trù do phát hiện được khả năng trục trặc của máy móc để tránh trì hoãn giao hàng, hay dự báo mức tồn kho hoàn toàn tự động nhờ huấn luyện và triển khai thuật toán trên kho dữ liệu lớn liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Theo Vietnam Report