Chi phí logistic tại Việt Nam cao gấp đôi thế giới

Trong thời đại thương mại điện tử bùng nổ như hiện nay, ngành dịch vụ hậu cần (hay ngành dịch vụ logistic) đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết và là ngành dịch vụ mũi nhọn, có giá trị gia tăng cao, làm nền tảng cho phát triển thương mại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, chi phí logistic là một trong những vấn đề mà mỗi doanh nghiệp (DN) và quốc gia quan tâm.

Chi phí logistics bao gồm các chi phí liên quan đến vận tải, tồn kho và chi phí quản lý hàng hóa trong dây chuyền cung ứng hàng hóa. Thành phần chính của chi phí logistics được xác định là dịch vụ khách hàng, chi phí tồn kho, vận tải, lưu kho bãi, chi phí hệ thống thông tin, xử lý đơn hàng và chi phí chất lượng lô hàng. Chi phí logistics thay đổi tùy theo từng mặt hàng, từng công ty kinh doanh dịch vụ logistics và từng quốc gia, theo đó cách tính chi phí logistics cũng khác nhau. Tuy nhiên, hiểu một cách ngắn gọn: “Chi phí logistics chính là tất cả các chi phí liên quan đến việc dịch chuyển một sản phẩm từ khi nguyên vật liệu đến khi giao hàng cho khách hàng và bất cứ các công đoạn ở giữa”. 

Tỷ trọng Chi phí logistic tại Việt Nam

Theo số liệu, từ Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, Việt Nam hiện nay có khoảng 4.000 doanh nghiệp đang kinh doanh mảng dịch vụ logistics, trong đó 89% là doanh nghiệp trong nước, 10 % là doanh nghiệp liên doanh và 1% là doanh nghiệp nước ngoài. Tốc độ phát triển của ngành logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14%-16%, với quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm và được đánh giá cao, đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN sau Singapore, Malaysia, Thái.

Tuy nhiên, các quy mô của doanh nghiệp trong nước hầu hết là vừa và nhỏ, chỉ chiếm khoảng 20% doanh thu toàn thị trường. Nhiều tên tuổi lớn là các công ty xuyên quốc gia cung cấp dịch vụ logistics tại thị trường VN phải kể đến như Maersk Line, DHL, Kuehne + Nagel …

Mặc dù tốc độ phát triển là tiềm năng, nhưng chi phí kho vận của các doanh nghiệp tại Việt Nam còn khá cao so với nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực. Tại ASEAN, một số nước như Thái Lan, Singapore,…đã giảm được chi phí hậu cần, đây cũng có thể xem là một rào cản lớn đối với năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Thậm chí nếu không được cải thiện, dịch vụ logistics của Việt Nam có thể thua cả Lào và Campuchia.​​

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), chi phí Logistics (vận tải, lưu kho, làm thủ tục hải quan…) ở Việt Nam bằng khoảng 20,9-25% GDP. Trong khi, chi phí trung bình chiếm 12% tổng sản phẩm nội địa thế giới. Trong đó, chi phí cho vận tải chiếm khoảng 60%, mức chi phí cao so với các nước phát triển. Mức chi phí này cao hơn Thái Lan 6%, Malaysia 12%, còn so với Singapore thì cao hơn tới 3 lần. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF).  Trong nền kinh tế Hoa Kỳ, chi phí Logistics chiếm 9,9% GDP của nước này (921 tỷ USD năm 2000).

Chi Phí Logistic tại Việt Nam so với các nước

Cùng với đó, các doanh nghiệp chưa có sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi cung ứng logistics và giữa doanh nghiệp dịch vụ logistics với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Chính vì vậy, ở cả chiều mua và bán, doanh nghiệp logistics trong nước đều bị hạn chế về sân chơi.

Chuỗi cung ứng cũng thiếu tính ổn định. Vận tốc bình quân của xe tải lưu thông trên các tuyến quốc lộ chỉ đạt mức 35km/h. Nếu độ tuổi bình quân xe tải ở các quốc gia Bắc Mỹ chỉ 7 năm thì tại Việt Nam độ tuổi này cao hơn gấp đôi là 17 năm. Điều này có thể dẫn tới giảm hiệu suất vận tải, gây mất an toan do quá trình sử dụng phương tiện quá lâu. 

Bên cạnh đó, thủ tục hải quan ở Việt Nam cũng chậm 3 ngày so với mức tốt nhất ở Đông Nam Á. Việc chậm trễ trong khâu thủ tục hải quan có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng, tổn thất đến chi phí hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Thêm nữa, chi phí lưu kho có thể tránh được mà các doanh nghiệp đang trả mỗi năm là 100 triệu đồng cũng dẫn đến việc gia tăng chi phí logistics cho doanh nghiệp Việt.

Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu nhận ra và tiến hành đầu tư cơ sở hạ tầng cho hệ thống kho hàng và hợp tác với các nhà vận chuyển để đảm bảo lượng hàng hóa cung ứng khắp cả nước. Mặc dù quy mô kho hàng còn hạn chế chỉ ở mức trung bình, nhưng cũng đã góp phần giúp các doanh nghiệp Việt Nam cải thiện được nhiều năng lực của mình. 

Cũng theo kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 được thủ tướng phê duyệt: “Đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của dịch vụ logistics vào GDP đạt 5%-6%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics trên thế giới đạt thứ 50 trở lên”.

Cùng với sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0 và thương mại điện tử, vài năm trở lại đây, nhiều doanh nghiệp dịch vụ logistics và khởi nghiệp (startup) đã ứng dụng công nghệ giúp thay đổi ngành logistics lên một tầm cao mới, đồng thời, giúp chủ hàng giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, người tiêu dùng được hưởng lợi.

Tổng hợp: TTXVN